ĐẠI CƯƠNG VỀ MÁY BIẾN ÁP
Máy biến áp là trái tim của một hệ thống điện, nó làm nhiệm vụ biến đổi điện áp và truyền tải công suất.
Để truyền tài công xuất đi xa cần phải nâng và hạ điện áp để đạt được các chỉ tiêu kinh kế kỹ thuật của lưới điện, dẫn đến có nhiều nút giao điện áp và công suất. Chính vì vậy, các hãng thường chế tạo máy biến áp với nhiều chủng loại, công xuất khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu sử dụng phù hợp với sơ đồ cung cấp điện. Ở Việt Nam có các cấp điện áp phân phối và truyền tải:
Lưới phân phối 0,4kV, 10kV, 22kV, 35kV (tương lai quy chuẩn về 22kV) với lưới này dùng máy biến áp 2 cuận dây. Phần lớn số lượng máy dùng máy biến áp kiểu dầu làm mát tự nhiên. Trong một số trường hợp để chống cháy nổ người ta có thể dùng máy biến áp không khuôn đúc.
Lưới truyền tải 110kV, 220kV, 500kV lưới này thường dùng máy biến áp tự ngẫu có điều chỉnh dưới tải.
Lưới điện siêu cao áp 500kV thường dùng máy biến áp một pha, cụm ba pha máy biến áp một pha để thuận tiện trong công tác chế tạo và xây lắp.
Ngoài ra, người ta còn chế tạo máy biến áp chuyên dụng cho các lò nhiệt luyện, cho các thiết bị biến đổi vv
Máy biến áp thường được ký hiệu như sau:
Kiểu – Công suất – UC/UH
Kiểu – Công suất – Uc/UT/UH
Kiểu : gồm các chữ cái chỉ rõ đặc điểm, kiểu cách.
Công suất : ghi công suất máy (kVA)
Uc , UT, UH - ghi điện áp các cấp (kV)
Ví dụ : SO96-400/22/0,4 là máy biến áp phân phối, tôn silic, dầu, điện áp 22/0.4kV, công suất 400kVA do ECOTRAN chế tạo, ngoài ra các hãng máy biến áp THIBIDI, máy biến áp MBT và máy biến áp ABB cũng có những kỹ hiệu riêng.
